Bối cảnh kinh tế Việt Nam

Bối cảnh kinh tế Việt Nam

Trong 25 năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng khích lệ trong quá trình phát triển. Quá trình cải cách chính trị và kinh tế trong thời kỳ Đổi mới, được phát động năm 1986, đã biến Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một nước thu nhập trung bình thấp.

Kinh tế Việt Nam đã phát triển khá mạnh mẽ trong thời gian qua. GDP bình quân đầu người của Việt Nam thuộc nhóm tăng nhanh nhất thế giới, đạt mức 5,5% trong thập kỉ 1990 và 6,4% trong thập kỉ 2000. Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng trong năm 2015 với tốc độ tăng trưởng ước đạt 6,7%. Kinh tế Việt Nam giảm nhẹ trong nửa đầu năm 2016, với mức tăng trưởng GDP đạt 5,5%, so với 6,3% của cùng kỳ năm 2015. Sự suy giảm này được cho là kết quả tác động của đợt hạn hán nghiêm trọng ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và

Việt Nam phát triển tương đối đồng đều – với tỉ lệ nghèo được  giảm rõ rệt và các thành quả phát triển về xã hội cũng cải thiện đáng kể về mọi mặt. Thu nhập bình quân đầu người những năm 1980 khoảng 100 USD đã tăng lên, đạt khoảng 2.100 USD năm 2015. Theo chuẩn 1,9 USD dựa trên giá cố định PPP năm 2011 thì số người nghèo cùng cực đã giảm từ trên 50% hồi đầu thập kỉ 1990 xuống còn 3% tại thời điểm hiện nay. Các chỉ số xã hội của Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt trong những thập kỷ qua, với một vài Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ (MDGs) đã đạt được trước thời hạn. Không chỉ thu nhập tăng lên mà giáo dục cũng được cải thiện và tuổi thọ trung bình của người Việt Nam cũng cao hơn hầu hết các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tỉ lệ tử vong bà mẹ đã giảm xuống dưới mức trung bình các nước thu nhập trung bình cao, và tỉ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm một nửa, hiện chỉ nhỉnh hơn mức trung bình của các nước nhóm trên một chút. Cơ sở hạ tầng cũng cải thiện đáng kể. Đến nay, hầu hết các hộ gia đình đã có điện sử dụng, trong khi năm 1993 chưa đến một nửa số hộ gia đình được sử dụng điện. Số hộ được cấp nước sạch và dịch vụ vệ sinh cũng tăng từ dưới 50% lên trên 75%.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu trong quá khứ, Việt Nam vẫn cần quan tâm đến công cuộc giảm nghèo. Những thành tựu giảm nghèo còn rất mong manh, vì một phần lớn trong xã hội vẫn nằm trong nhóm dễ bị tổn thương, sống gần với ngưỡng nghèo (1/3 dân số – tương đương với 30 triệu người – nằm trong nhóm “nghèo” hoặc “cận nghèo”). Nhóm nghèo và nghèo cùng cực tập tủng trong các nhóm dân tộc thiểu số. Trong khi chỉ chiếm 15% dân số, nhưng một nửa số người nghèo trên cả nước là người dân tộc thiểu số. Hơn nữa, những nhóm này lại rất dễ bị tổng thưởng bởi các cú sốc về biến đổi khí hậu, thiên tai hoặc cú sốc về kinh tế và sức khỏe.

Những nguy cơ về biến đổi khí hậu đang dần hiện hữu. Việt Nam là nước dễ bị tác động bởi biến đổi khí hậu và các thảm họa thiên nhiên, dẫn đến rủi ro lớn cho các thành quả kinh tế và phát triển trong tương lai. Việt Nam đã và đang trải qua tình trạng nhiệt độ tăng lên và nước biển dâng, những trận bão, lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng hơn. Thiệt hại kinh tế chiếm khoảng 1 đến 1,5% GDP trong hai thập kỷ qua.

Việt Nam đã tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế khi tham gia các hiệp định thương mại tự do với Liên minh Kinh tế Á Âu, Hàn Quốc, và Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Đồng thời, Cộng đồng Kinh tế ASEAN cũng được thành lập ngày 31/12/2015 và sẽ mở ra nhiều cơ hội giúp Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Nhưng, trong khi hội nhập toàn cầu tiến triển tốt, gắn Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu, thì lợi ích do nó mang lại vẫn bị hạn chế do thiếu vắng mối liên kết với các doanh nghiệp trong nước.

Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quyết tâm cải cách. Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội giai đoạn 2011-2020 tập trung vào cải cách cơ cấu, đảm bảo bền vững môi trường, công bằng xã hội cũng như các vấn đề mới nảy sinh trong quá trình ổn định kinh tế vĩ mô. Chiến lược xác định ba lĩnh vực “đột phá” bao gồm: (i) phát triển nguồn nhân lực và kĩ năng (nhất là nguồn nhân lực phục vụ phát triển công nghiệp hiện đại và đổi mới sáng tạo). (ii) hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, và (iii) phát triển hạ tầng. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015 đã cụ thể hoá ba lĩnh vực đột phá ghi trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội, và tập trung sâu hơn vào ba lĩnh vực tái cơ cấu chủ chốt – ngành ngân hàng, doanh nghiệp nhà nước và đầu tư công. Đây là những lĩnh vực tái cơ cấu cần thiết để đạt mục tiêu đề ra. Bản dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2016-2020 thừa nhận tốc độ hoàn thành mục tiêu chậm chạp trong kì kế hoạch 5 năm lần trước và nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng tốc cải cách trong giai đoạn 2016-2020 nhằm hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn chiến lược 10 năm.

Lần cập nhật gần nhất: 26 Tháng 9 Năm 2016

Nguồn: Worldbank.org